Hiển thị các bài đăng có nhãn nợ xấu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nợ xấu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 2 tháng 8, 2012

Ngân hàng càng lớn, càng nhiều nợ xấu


42% nợ xấu của 8 ngân hàng niêm yết là những khoản có thể mất trắng. Trong khi đó, các "ông lớn" như Vietcombank, Vietinbank chiếm 70% nợ xấu của nhóm này.

>> Chấm dứt Habubank nợ xấu đi đến thành công
>> Mờ dần Habubank nợ xấu - Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông Habubank
>> Đẩy lùi tin Habubank nợ xấu - Habubank cho vay mua nhà

Theo báo cáo tài chính quý II công ty mẹ của 8 ngân hàng niêm yết, tổng nợ xấu các đơn vị này đang gánh lên tới 20.726 tỷ đồng. Trong đó, nợ nhóm 5 - có khả năng mất vốn - chiếm tới 40%.

Trong số 8 nhà băng niêm yết, nợ nhóm 5 - nợ có khả năng mất vốn - nhóm có nguy cơ rủi ro cao nhất - của Vietcombank và Eximbank đều chiếm quá nửa tổng nợ xấu. Trong khi đó, cơ cấu nợ xấu cho hay, nợ có khả năng mất vốn của 8 ngân hàng đều chiếm ít nhất một phần ba "cục máu đông" nợ xấu.

Vietinbank và Sacombank là 2 ngân hàng có tốc độ gia tăng nợ xấu cao nhất so với thời điểm đầu năm 2012. Nợ xấu của Vietinbank tăng hơn 3 lần đầu năm, từ hơn 2.000 tỷ lên gần 7.000 tỷ đồng. Còn Sacombank, nợ xấu của ngân hàng này tăng hơn 2 lần.

Nhìn vào bảng thống kê số liệu nợ xấu của 8 ngân hàng niêm yết có thể thấy rõ, ngân hàng quy mô càng lớn thì "cục máu đông" nợ xấu càng "đặc". Tính đến hết ngày 30/6, nợ xấu của Vietcombank lẫn Vietinbank "đội" thêm hàng nghìn tỷ. Vietcombank tăng từ hơn 4.000 tỷ lên gần 7.500 tỷ trong khi Vietinbank tăng gấp 3 lần từ 2.000 tỷ lên gần 7.000 tỷ đồng. Nếu xét riêng 8 nhà băng đang niêm yết trên sàn, nợ xấu của hai "ông lớn" quốc doanh Vietcombank, Vietinbank chiếm 70% tổng nợ xấu của các ngân hàng.
Nợ xấu 8 ngân hàng niêm yết tại thời điểm 30/6 và 1/1/2012. Đơn vị: tỷ đồng.

Bình luận về những con số này, Tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa - thành viên Hội đồng tư vấn Chính sách tiền tệ - cho hay, công bố nợ xấu của Vietcombank thường cao hơn các ngân hàng khác một chút, nguyên nhân là họ hạch toán nợ gần với chuẩn quốc tế nhất. Mặc dù vậy, ông Nghĩa nhìn nhận việc nợ xấu tăng lên hàng nghìn tỷ sau 6 tháng đầu năm là đáng lo ngại. "Cục máu đông nợ xấu đã quá lớn làm tăng mạch máu khiến hệ thống tuần hoàn không thể đẩy máu lưu thông được nữa", chuyên gia này ví von.

Trong khi đó, chuyên gia ngân hàng Nguyễn Trí Hiếu lại cho rằng việc các ngân hàng lớn như Vietcombank, Vietinbank có số nợ xấu cao là dễ hiểu bởi quy mô hoạt động lớn nên quy mô nợ cũng không thể nhỏ. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Trí Hiếu, nguyên nhân chính khiến nợ xấu của các "ông lớn" tăng cao có thể vì họ phải "ôm" quá nhiều nợ từ doanh nghiệp Nhà nước làm ăn không hiệu quả.

Tuy nhiên, theo ông Lê Xuân Nghĩa - nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban giám sát tài chính quốc gia - nợ đọng trong khối doanh nghiệp tư nhân không phải ít trong bối cảnh kinh tế quá khó khăn như này. "Hiện có một vài doanh nghiệp tư nhân thậm chí còn nợ gấp 3, gấp 4 lần Vinashin, Vinalines", ông Nghĩa tiết lộ với VnExpress.net.

Với tốc độ gia tăng chóng mặt, nợ xấu đã trở thành câu chuyện ám ảnh tại hầu hết các ngân hàng trong nửa năm trở lại đây. Phó phòng khách hàng doanh nghiệp tại một ngân hàng cổ phần trên phố Trần Hưng Đạo (Hà Nội) cho biết, nhiều cán bộ tín dụng đã bị giữ lại 30% lương vì để nợ xấu tăng lên cao và khó thu hồi. "Làm vậy để các nhân viên mạnh tay hơn trong việc đôn đốc, thúc giục khách hàng trả nợ", vị cán bộ này lý giải.
Bản thân Vietinbank, "ông lớn" quốc doanh có nợ xấu tăng thêm 4.700 tỷ đồng so với đầu năm cũng vừa có động thái chấn chỉnh tình trạng nợ xấu. Một vài ngân hàng bắt đầu xử lý cán bộ tình dụng để nợ xấu leo cao. Vietinbank cùng một lúc sa thải 15 cán bộ Chi nhánh Bến Tre (gồm cả ban giám đốc chi nhánh ngân hàng) vì để xảy ra nhiều sai phạm trong hoạt dộng điều hành nghiệp vụ, gây nợ xấu lớn.

Năm ngoái, nợ xấu toàn ngành chỉ 3,07% nhưng đã tăng gấp rưỡi lên 4,47% vào năm nay. Tuy nhiên, 4,47% là con số do các ngân hàng thương mại báo cáo trong khi con số Thanh tra Ngân hàng Nhà nước đưa ra là 8,6% tương đương 202.000 tỷ đồng (tính đến hết tháng 3). Chính Ngân hàng Nhà nước cũng thừa nhận những câu chuyện giấu nợ xấu, làm đẹp bản báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại.

Nhìn vào những con số nợ xấu trong quý II đã công bố, một chuyên gia tài chính cho rằng sở dĩ nợ xấu tăng mạnh là do nhiều ngân hàng đã biết "sợ" nên phân loại, trích lập dự phòng "có phần đầy đủ hơn". Tuy nhiên, vị này vẫn tin rằng: "Kể cả ngân hàng lớn lẫn nhỏ đều trích lập dự phòng rủi ro chưa đầy đủ nên bức tranh về lợi nhuận của họ có thể đã được tô hồng hơn thực tế".

Thứ Tư, 20 tháng 6, 2012

Việc sáp nhập của Habubank đang ở giai đoạn 2

Habubank xoá mờ nợ xấu - Theo phương án sáp nhập được hai ngân hàng công bố, việc triển khai sẽ được tiến hành qua 3 giai đoạn và hiện đã hoàn thành giai đoạn 1.

>> Habubank sẽ không còn nợ xấu sau khi sát nhập
>> Việc sáp nhập giúp Habubank xoá nợ xấu

Ngày 15/6, Ngân hàng Nhà nước đã có Văn bản số 3651 chấp thuận về nguyên tắc việc sáp nhập Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội (Habubank, HBB) vào Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB), sau khi SHB trình đề án hôm 12/6. Theo đó, hai ngân hàng này phải hoàn tất hồ sơ theo quy định tại Khoản 2 Điều 11 Thông tư số 04/2010/TT-NHNN để được chấp thuận sáp nhập chính thức.
Quá trình sáp nhập đang ở giai đoạn 2

Theo phương án sáp nhập được hai ngân hàng công bố, việc triển khai sẽ được tiến hành qua 3 giai đoạn: chuẩn bị, triển khai các thủ tục sáp nhập và hoàn tất giao dịch sáp nhập. Hiện hai ngân hàng đã được NHNN chấp thuận về nguyên tắc cho sáp nhập. Như vậy, quá trình sáp nhập đã hoàn thành giai đoạn 1 và đang trong tiến trình hoàn thiện hồ sơ, xin phép Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCK) cho phát hành thêm cổ phiếu.

Thứ Sáu, 25 tháng 5, 2012

Dẹp nợ xấu - Habubank bảo vệ quyền lợi nhân viên

Không đề cập đến kế hoạch sáp nhập với Habubank, song khi trả lời PV, ông Đỗ Quang Hiển, Chủ tịch Hội đồng Quản trị SHB, đưa ra một số khẳng định ở hướng sáp nhập nói chung mà ngân hàng này đang triển khai.

Ông Hiển cho biết, hiện SHB đang tìm hiểu một số đối tác để có thể thực hiện sáp nhập, theo chủ trương tái cơ cấu hệ thống của Ngân hàng Nhà nước. Thực tế thông tin tìm kiếm các đối tác theo định hướng trên cũng đã “tạo tâm lý” trong hệ thống thời gian qua.

 
Nhưng ông Hiển khẳng định rằng: “Khi tiến hành sáp nhập hay hợp nhất thì đều phải đảm bảo quyền lợi của người lao động cả hai bên. Lãnh đạo SHB đã có thông tin tới các đơn vị kinh doanh là không có xáo trộn gì, quyền lợi của họ không bị ảnh hưởng gì. Vì sao, vì các bạn là các đơn vị kinh doanh, đang nhận các chỉ tiêu kinh doanh, nếu đạt được kế hoạch thì được hưởng và được đảm bảo thu nhập theo đúng chỉ tiêu kế hoạch mà các bạn đã nhận”.

Ngoài ra, Chủ tịch SHB cũng giải thích thêm rằng, trong một hệ thống việc có đơn vị kinh doanh lãi, có đơn vị lỗ là bình thường. Theo đó, thu nhập sẽ cụ thể theo mức độ hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch tại mỗi đơn vị.

Còn theo một nguồn tin từ Habubank khi trao đổi với PV, quyết định lên kế hoạch sáp nhập là đã được Hội đồng Quản trị Habubank cân nhắc một cách cẩn trọng, trên cơ sở đảm bảo tối đa quyền lợi cho các cổ đông, cán bộ nhân viên trong điều kiện hiện nay.

Việc sáp nhập Habubank vào SHB là việc chuyển toàn bộ trách nhiệm và nghĩa vụ của Habubank với các khách hàng, đối tác, nhân viên cho SHB kể từ ngày nhận sáp nhập. Quá trình này, được sự kiểm soát và hỗ trợ chặt chẽ của Ngân hàng Nhà nước các cấp để đảm bảo quá trình diễn ra thành công, không ảnh hưởng tới quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền, khách hàng và các bên liên quan.

“Trong đề án đã được các bên thông qua và Ngân hàng Nhà nước ủng hộ, cán bộ nhân viên của ngân hàng sau sáp nhập sẽ là tổng số cán bộ nhân viên của hai ngân hàng hiện nay và được đảm bảo các quyền lợi chung giống nhau”, nguồn tin này cho biết.

Tin tức:
Hết nợ xấu - Habubank còn quyền lơi khác khi sáp nhập
Mô hình "hai trong một"?

Thứ Năm, 17 tháng 5, 2012

Xử lý nợ xấu vẫn gặp nhiều khó khăn.

Dù Chính phủ đứng ra mua lại hay để các công ty mua bán nợ vào cuộc, việc xử lý nợ xấu vẫn gặp nhiều khó khăn.



Theo ông Phạm Hồng Hải, Phó tổng giám đốc HSBC Việt Nam, giải pháp mua bán nợ xấu hiện nay khó thực hiện.

- Quan điểm của ông về ý kiến cho rằng Chính phủ nên đứng ra mua lại những khoản nợ xấu đó, lành mạnh hóa nó rồi sau đó bán lại?

- Sẽ khó thực hiện bởi nếu Chính phủ mua nợ xấu của một ngân hàng A với giá thấp sẽ gây ảnh hưởng lên định giá nợ xấu của ngân hàng khác. Trong khi đó, chưa chắc các ngân hàng đã mặn mà với giải pháp này. Ví dụ điển hình là thời điểm khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 - 2009, Chính phủ Mỹ có đưa giải pháp mua nợ của các ngân hàng, nhưng không hiệu quả, bởi mấy lý do sau. Thứ nhất, không ai dám bán, vì bán sẽ lộ ra là mình có nợ xấu. Thứ hai, chắc chắn Chính phủ muốn mua nợ xấu với giá có lợi cho đất nước; nhưng nếu giá quá thấp thì các ngân hàng không đồng ý, do sẽ phải chịu một khoản lỗ rất lớn cho khoản nợ đó. Do đó, Chính phủ Mỹ cuối cùng đã phải đưa ra giải pháp Ngân hàng Trung ương bỏ tiền mua lại cổ phần của các ngân hàng để vực lại niềm tin.

Bên cạnh đó, với giải pháp mua nợ xấu, Chính phủ cần phải bỏ ra một lượng vốn khá lớn. Tính bình quân, các chính phủ thường tiêu tốn khoảng 13% giá trị GDP khi tái cơ cấu hệ thống tài chính. Con số này trên thực tế có khả năng lớn hơn đối với một số nước, ví dụ Chính phủ Indonesia tiêu tốn 50% giá trị GDP hay hơn 30% tại Thái Lan hoặc nhỏ hơn như Malaysia, khoảng 5%.

- Cũng có ý kiến cho rằng, nên học hỏi kinh nghiệm mua bán nợ xấu của Trung Quốc, vì nước này có vẻ thực hiện thành công?

- Thực ra, chưa ai biết vấn đề nợ xấu của Trung Quốc sẽ diễn ra như thế nào. Vì Trung Quốc hiện nay vẫn tồn tại nợ xấu của các chính quyền địa phương, do bản thân các chính quyền địa phương vay rất nhiều, dùng khoản tiền đó để đầu tư vào các dự án trung - dài hạn, mà khoản vay lại là ngắn hạn. Đến lúc chính quyền địa phương không trả được nợ, thì tình hình nợ xấu của các ngân hàng tại Trung Quốc cũng sẽ khó kiểm soát.

- Như vậy, việc AMC mua lại nợ xấu ở Việt Nam sẽ rất khó thực hiện?

- Việc thực hiện thành công đòi hỏi các điều kiện nêu ở trên. Khi các điều kiện chưa thỏa mãn, các ngân hàng có thể chọn cách bán trực tiếp cho một người, chứ không rao bán trên thị trường.

Điều mà chúng ta kỳ vọng là sau khi hợp nhất, sáp nhập, người ta sẽ phải lành mạnh hóa sổ sách, giải quyết tất cả những gì còn tồn đọng. Tôi cho rằng, việc lập ra một tổ chức để mua lại nợ xấu là một sự lựa chọn, nhưng ở Việt Nam, nhiều khả năng là khó làm trong thời điểm hiện nay.

- Vậy ông đánh giá thế nào về các giải pháp hiện nay của NHNN trong việc xử lý các ngân hàng yếu kém?

- Về chính sách, việc NHNN áp trần tăng trưởng tín dụng là điều rất tốt trong việc lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng. Thay vì tăng trưởng tín dụng trước đây ở mức cao, giờ chỉ còn 17% hoặc thấp hơn. Do đó, các ngân hàng phải lựa khách hàng tốt nhất để cho vay, không phải tăng về lượng, mà phải tăng về chất. Bản thân việc này sẽ giúp nâng cao chất lượng tài sản của ngân hàng.

Bên cạnh đó, cần xem xét lại các quy định về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro. Theo Quyết định 493, các ngân hàng được quyền chọn việc xác định nợ xấu trên cơ sở định tính hoặc định lượng. Chính vì vậy, đến nay, rất ít ngân hàng lựa chọn phân loại nợ theo phương pháp định tính mà đa phần chọn phương pháp định lượng.

Tất nhiên, khi nâng chuẩn, những ngân hàng không đạt chuẩn sẽ phải sáp nhập. NHNN đã có hướng mở cho việc sáp nhập, hợp nhất. Đó cũng là một sự lựa chọn. Nếu bản thân ngân hàng chưa đủ sức, thì nên kết hợp với một ngân hàng mạnh hơn để tồn tại, chứ cứ cố chống chọi thì chưa chắc đã giữ lại được giá trị của bản thân trên thị trường.

Tuy nhiên, theo tôi, nên “mở” hơn cho các thành phần kinh tế tư nhân và ngân hàng nước ngoài tham gia, chỉ có như vậy mới đẩy nhanh được tiến trình này. Ví dụ, ở nước ngoài, khi các ngân hàng nước ngoài tham gia mua lại một ngân hàng yếu kém, xử lý nợ xấu…, các ngân hàng nước ngoài được mua tới 90%, thậm chí 100% cổ phần của ngân hàng yếu kém đó. Ở Việt Nam, theo quy định, sở hữu tối đa của một định chế tài chính nước ngoài tại các ngân hàng trong nước chỉ là 20%, rất khó để họ tham gia thay đổi và nâng cấp tổ chức tín dụng yếu kém.

Chủ Nhật, 13 tháng 5, 2012

Habubank và SHB bắt tay cùng phát triển

Trong hơn 1 tháng qua trên thị trường luôn trong tình trạng hoang man về khả năng Habubank và SHB về cùng một nhà. Nhưng sau nhiều bàn bạc, cân nhắc thì cuối cùng các cổ đông Habubank cũng đưa ra quyết định tán thành phương án sáp nhập giữa Habubank và SHB để giải quyết vấn đề xoá hết Habubank nợ xấu .

Sau khi thủ tục sáp nhập giữa hai ngân hàng Habubank và SHB hoàn tất thì ngân hàng mới sẽ có tên là NHTMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) có vốn điều lệ lên tới gần 9.000 tỷ đồng, quy mô tổng tài sản trên 100.000 tỷ đồng với hơn 500.000 khách hàng và 5.000 nhân viên...

Cũng theo dự thảo sáp nhập, các chủ sở hữu cổ phần của Habubank sau khi sáp nhập vào SHB sẽ được hoán đổi cổ phiếu theo tỷ lệ 1 cổ phần HBB bằng 0,75 cổ phần SHB. Tổng số cổ phần mà cổ đông HBB nhận khi hoán đổi sẽ được làm tròn theo nguyên tắc làm tròn xuống số nguyên gần nhất.

Nếu thương vụ giữa SHB và Habubank thành công thì đây sẽ là thương vụ hợp nhất ngân hàng thứ 2 sau vụ hợp nhất giữa ba Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB), Ngân hàng Đệ Nhất (Ficombank), Ngân hàng Việt Nam Tín Nghĩa (TinNghiaBank) hồi tháng 12/2011.

Thứ Sáu, 11 tháng 5, 2012

Habubank và những lợi ích sau khi hết nợ xấu

Habubank - Dự thảo đề án đưa ra nhận định rằng, xu thế sáp nhập với các tổ chức tín dụng khác nhằm mở rộng quy mô và danh tiếng của ngân hàng trên thị trường đang được đẩy mạnh nhanh chóng và được sự ủng hộ của Ngân hàng Nhà nước; việc sáp nhập cũng tạo cơ hội tốt cho ngân hàng thực hiện quá trình tái cơ cấu một cách toàn diện nhằm tạo ra một diện mạo mới cho ngân hàng sẵn sàng để phát triển sau giai đoạn kinh tế khủng hoảng.

Habubank hiện đã có hệ thống quy trình quy chế hoạt động tương đối hoàn thiện và có đội ngũ cán bộ quản lý nòng cốt có kinh nghiệm và năng lực chuyên môn; có hệ thống gọn nhẹ - linh hoạt, đặc biệt có sự đoàn kết và nhất trí cao về chiến lược tái cấu trúc từ Hội đồng Quản trị, Ban điều hành đến toàn thể cán bộ công nhân viên.

Theo dự thảo đề án, với các yếu tố khách quan và sự cần thiết, “việc sáp nhập sẽ mang lại những lợi ích to lớn với bản thân Habubank nói riêng và hai ngân hàng sáp nhập nói chung”.

Cụ thể, việc sáp nhập với SHB sẽ giúp hai ngân hàng sáp nhập tiến tới trở thành một định chế tài chính vững mạnh và thương hiệu cũng mạnh hơn; đặc biệt Habubank không còn nợ xấu, hai ngân hàng sáp nhập có cơ hội để cùng điều hành một doanh nghiệp có quy mô lớn hơn và có sức cạnh tranh tốt hơn sau giai đoạn sáp nhập; mở rộng khả năng phát triển dịch vụ, đặc biệt là hoạt động bán lẻ do mạng lưới phân phối dịch vụ, thị phần lớn hơn; bổ sung lợi thế về quy mô trong phát triển kinh doanh, trong quản lý chi phí; những điểm mạnh của ngân hàng nhận sáp nhập sẽ hỗ trợ cho Habubank và ngược lại Habubank có nhiều điểm mạnh để hỗ trợ ngân hàng nhận sáp nhập.

Ngoài ra còn nhận được sự hỗ trợ và quan tâm của Ngân hàng Nhà nước trong quá trình sáp nhập do việc sáp nhập nằm trong chương trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam.

Nếu tiến hành sáp nhập thành công, theo Habubank, kế hoạch này sẽ tạo ra một định chế tài chính có khả năng tồn tại và phát triển. Định chế này có vốn điều lệ khoảng gần 9.000 tỷ đồng và quy mô tổng tài sản trên 100.000 tỷ đồng, hoạt động khắp các tỉnh thành lớn trong cả nước; có số lượng khoảng 500.000 khách hàng; khoảng 5.000 nhân viên; có các công ty con, có khả năng cung cấp các hoạt động hỗ trợ, gia tăng lợi ích cho khách hàng và tăng thu nhập ngoài lãi cho ngân hàng; có địa bàn hoạt động trong khu vực Đông Dương với các chi nhánh tại Lào và Campuchia; có sự hậu thuẫn mạnh mẽ và có các khách hàng hoạt động trong những lĩnh vực cốt lõi cho sự phát triển của nền kinh tế như: than, khoáng sản, cây công nghiệp (cao su), phát triển hạ tầng và một lực lượng đông đảo các khách hàng SMEs hoạt động trong các ngành kinh tế khác nhau; có khả năng cung cấp các dịch vụ hiệu quả và an toàn cho một khối lượng lớn các khách hàng cá nhân…

Thứ Ba, 8 tháng 5, 2012

Nợ xấu của các ngân hàng sẽ gia tăng


Habubank - Để bảo đảm thanh khoản cũng như quy định tăng trưởng tín dụng phi sản xuất đạt 20% dư nợ cho vay, một mặt các ngân hàng triệt để “thắt” các khoản vay phi sản xuất, mặt khác khẩn trương thu hồi vốn. Từ đây, nợ xấu dần lộ diện. Theo nhiều ngân hàng, không ít doanh nghiệp có các khoản nợ thuộc diện “khó đòi” từ hàng chục đến hàng trăm tỷ đồng.

 Nợ khó đòi

Không công bố một cách chính thức, song không ít lãnh đạo ngân hàng đều tỏ ra e ngại về các khoản nợ khó đòi. Giám đốc chi nhánh một ngân hàng thương mại cổ phần trên đường Cộng Hòa, quận Tân Bình, TP HCM, cho biết, không chỉ các khoản nợ mới phát sinh, ngay cả nhiều món nợ từ các năm trước, ngân hàng này vẫn chưa thu xong.

Tuy nhiên, nhiều lãnh đạo ngân hàng cho rằng, nợ xấu phát sinh không xuất phát từ thái độ dây dưa, chây ỳ của khách hàng mà là do hoạt động kinh doanh khó khăn, khiến khách vay khó có khả năng trả nợ. Đặc biệt, với những khách hàng thân thiết, có quan hệ giao dịch hai chiều lâu dài, có khoản vay lớn thì ngân hàng quả thật rất khó xử.

Theo tiết lộ của giới chuyên gia tài chính, đến thời điểm này, nhiều ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu lên đến 2 – 2,5% tổng dư nợ. Mặc dù gần đây, các ngân hàng ráo riết siết chặt tín dụng và thu hồi vốn bằng nhiều biện pháp, song nhiều ý kiến vẫn e ngại nợ xấu sẽ gia tăng vào cuối năm. Theo tính toán, tổng mức nợ xấu của các ngân hàng hiện không dưới 100.000 tỷ đồng.

Nguy cơ nợ xấu sẽ trở nên rõ ràng hơn vào cuối quý 2, đầu quý 3, khi những nỗ lực để trả lãi vay đã làm kiệt sức các doanh nghiệp. Đồng thời, tỷ lệ nợ xấu cũng đè nặng lên các ngân hàng dưới tác động kép của bức tranh không mấy sáng sủa của nền kinh tế từ nay đến hết năm.

Mạnh được, yếu chết

Nợ xấu hiện phân bố không đều ở các ngân hàng. Và điều này phản ánh năng lực hoạt động của ngân hàng trong việc thẩm định, xét duyệt hồ sơ cho vay và kiểm soát nguồn vốn vay, cũng như hỗ trợ khách hàng. Bởi trong nhiều trường hợp, khi xét duyệt hồ sơ cho vay, các dấu hiệu xấu chưa xuất hiện, chỉ đến tháng thứ 3 hoặc tháng thứ 6 mới bắt đầu lộ diện. Lúc này, cần thiết phải có sự theo dõi, kiểm soát và hỗ trợ lập tức của ngân hàng cho vay. Muốn vậy, các ngân hàng phải có hệ thống phòng thủ, tức quỹ dự phòng khá chu đáo. Nếu không tuân thủ điều này, thì ngân hàng phải nhận lấy hậu quả. Điều đó là hoàn toàn sòng phẳng trong kinh doanh.

Tiến sĩ Lê Thẩm Dương, ĐH Ngân hàng TP HCM, nhận định, hiện nợ xấu của các ngân hàng vẫn đang trong tầm kiểm soát (hơn 2,7% GDP). Theo thông lệ, khi tỷ lệ này tăng quá 5% GDP thì sẽ tác động xấu đến nền kinh tế. Tuy nhiên, với mức lãi suất cho vay lên đến 27 – 28% tại nhiều ngân hàng như hiện nay, sẽ rất khó khăn cho doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh cũng như trả nợ ngân hàng. Và áp lực đó sẽ dồn về cuối năm. Mặt khác, cho đến nay, tình hình các nền kinh tế lớn chi phối thế giới vẫn bộc lộ nhiều tín hiệu xấu. Do vậy, rất khó để các doanh nghiệp Việt Nam lội ngược dòng, tạo cú đột phá ngoạn mục nào trong kinh doanh để có doanh thu tốt và xoay sở trả nợ. Nợ xấu đe dọa hoạt động ngân hàng là tất yếu.

Tuy nhiên, ông Dương lại không bi quan về vấn đề này, mà cho rằng, bản chất của nền kinh tế giai đoạn này rất khó khăn, cả người tiêu dùng, doanh nghiệp và ngân hàng cũng không ngoại lệ. Nếu như người dân phải bươn chải với gánh nặng cuộc sống khi giá tiêu dùng leo thang, doanh nghiệp phải chật vật cố sức trụ lại thì phía ngân hàng cũng phải chấp nhận tình thế khó khăn chung. Đây là lúc thanh lọc các doanh nghiệp yếu và ngân hàng cũng cần như vậy.

baomoi.com